Băng huyết – Hành kinh ra máu quá nhiều

1
315
băng huyết rong kinh

BĂNG HUYẾT,  RONG HUYẾT

     (Băng lậu)

Băng huyết là Ngoài kỳ hành kinh mà ra huyết nhiều, hoặc ra huyết liên tục gọi là băng huyết, rong huyết (băng lậu). Huyết ra cấp tốc ra như trút, như dội nước gọi là “băng” (băng huyết); huyết ra nhỏ giọt ri rỉ không dứt nên gọi là ”lậu” ( rong huyết). Băng huyết, rong huyết đều là huyết ở tử cung ra, nhưng thế bệnh có hoãn cấp khác nhau rõ rệt, nhưng trên lâm sàng thường gọi chung là băng lậu.

Hai chứng bệnh này là có nhân quả lẫn nhau bởi vì sau khi băng huyết rồi huyết thường còn chảy xuống từng giọt củng không thường gây ra băng đột ngột; vì thế tính chất cơ bản của 2 bệnh này là giống nhau, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Hai chứng này là từ kinh nguyệt bất điều mà phát triển ra, thường có quan hệ kinh bế, đặc biệt là phụ nữ ngoài 40 tuổi, thường có hiện tượng kinh nguyệt dừng lại mấy tháng rồi huyết băng như rót cần phải chú ý. Còn có trường hợp tinh thần u uất, kinh nguyệt bế trệ cũng thường là triệu của chứng băng lậu, vì thế chứng băng lậu nói chung có thể vào phép điều tri kinh nguyệt bất điều. Nhưng ở trương hợp mất huyết quá nhiều, huyết thoát khí trệ thì cần phải đại tể bổ khí để nhiếp huyết như Độc sâm thang mới có thể khiến hiệu. Thể băng lậu đã nhẹ. Mạch nhược, hư hàn thì sử dụng giao ngại tứ vật thang ( tứ vật, a giao, ngãi cứu, cam thảo). Tỳ hư không nhiếp được huyết thì dùng Quy tỳ thang.

Trong quá trình bệnh băng huyết và rong huyết phát ra có thể cùng chuyển hóa lẫn nhau, nếu băng huyết lâu ngày không khỏi, thế bệnh nhẹ dần thì có thể chuyển thành rong huyết; rong huyết không khỏi, thế bệnh có thể dần dần hóa thành băng huyết. Song với rong huyết thì rong huyết nặng hơn, nhưng trong chữa bệnh, đều phải chú ý như nhau.

Chứng băng huyết thể bệnh gấp, huyết ra nhiều là một loại bệnh tương đói nặng trong phụ khoa, nếu bệnh phát ra sau khi sinh nở là lúc khí huyết đều hư thì chứng trạng càng nặng hơn, mà dễ thấy hiện tương hư thoát.

Phụ nữ có tuổi mà băng huyết, rong huyết trỡ đi trở lạ mãi luôn, hoặc ra nhiều màu sắc lận lộn, đó là triệu chứng không tốt, phải chú ý chửa sớm. Ngoài ra sau lúc đẻ củng thường thấy băng huyết thì biện chứng luận trị củng như băng huyết, rong huyết.

Trên lâm sàng Phòng khám đông y Hoàn xuân đường thường phân biệt 2 loai lớn là hư chứng và thực chứng.

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ BĂNG HUYẾT

A. BĂNG HUYẾT DO HƯ CHỨNG

1. Nguyên nhân

1.1.Khí hư

Làm việc gắng sức, ăn uống không điều độ,tổn thương đến khí của tỳ phế. Khí của tỳ phế bị hư, khí trung tiêu hãm xuống dưới, không thể củng cố điều nhiếp được, hoặc lo ngĩ quá độ, hại đếntâm tỳ làm cho khí của tâm tỳ hư mà không giữ gìn được.

1.2.Dương hư

Khí lâu ngày không khôi phục làm hao tổn thêm đến dương khí của hạ nguyên, chân hỏa của mệnh môn suy kém,không làm ấm nóng tử cung và không điều hòa giữ gìn được xung mạch, mạch nhâm.

1.3.Âm hư

Thời kỳ sau đẻ không kiêng phòng dục, hoặc trong khi hành kinh mà dục tình vọng lên, đều có thể tổn thương đến huyết hải, làm âm huyết sút kém, mạch xung nhâm không được vững, phần âm của thận kém sút quá. Không thể giữ vững được chân âm.

2. Biện chứng luận trị băng huyết

2.1. Thể khí hư

 a. Triệu chứng: lượng huyết ra nhiều, hoặc ra dầm dề không ngớt,màu đỏ nhợt mà trong, tinh thần mỏi mệt, ngắn hơi ngại nói. Không thiết ăn uống,đại tiện lạnh hoặc sợ lạnh, tự đổ mồ hôi, lưỡi nhợt rêu mỏng mà ướt, mạch đại vô lực hoặc tế nhược. Nặng hơn thì 2 mắt mờ tối, xây xẩm, ngã ra bất tỉnh nhân sự, mạch vi muốn tuyệt.

Nếu người tâm tỳ đề hư, kiêm sắc mặt úa thì hiện ra các chứng hay quên, hồi hộp, mất ngủ, thích nằm mạch trầm nhược.

b. Phương pháp điều trị: bổ khí, liểm huyết.

c. Phương thuốc: dùng Bổ trung ích khí thang gia trắc bá diệp, hương phụ.

Bài Bổ trung ích khí thang

Hoàng kỳ

16g

Trần bì

6g

Nhân sâm

12g

Sinh khương

4g

Quy thân

10g

Đại táo

12g

Bạch truật

12g

Thăng ma

8g

Chích thảo

4g

Sài hồ

8g

 * Trường hợp huyết ra quá nhiều, gây mạch nhanh, huyết áp tụt, đầu choáng, mắt mờ, muốn ngã, cần cấp cứu bằng Độc sâm thang : nhân sâm 12g ( có thể dùng đẳng sâm hoặc bào sâm mà thay, liều lượng tối thiểu là 40g), sắc đặc uống 1 lần.

Hoặc dùng sâm phụ thang

Nhân sâm

16g

Phụ tử chế

8g

Sinh khương

4g

Đại táo

12g

Hoặc dùng Cố bản chỉ băng

Nhân sâm

12g

Thục địa

20g

Hoàng kỳ

12g

Đương quy

12g

Bạch truật

20g

Hoắc hương

6g

Hoặc dùng Cứu bại cầu sinh thang

Nhân sâm

12g

Thục địa

12g

Bạch truật

12g

Đương quy

12g

Hoài sơn

12g

Sơn thù

8g

Phụ tử chế

8g

Táo nhân

10g

 * Trường hợp tâm tỳ đều hư thì dùng bài Quy tỳ thang

Nhân sâm

12g

Hoàng kỳ

16g

Đương quy

12g

Bạch truật

12g

Mộc hương

6g

Viễn chí

4g

Táo nhân

8g

Phục thần

12g

Long nhãn

6g

Cam thảo

4g

Đại táo

12g

* Trường hợp sau đ băng huyết thì phải dề phòng huyết thoát khí hãm xuống thường dùng Thập toàn đại bổ thang

Đẳng sâm

12g

Hoàng kỳ

12g

Bạch truật

12g

Nhục quế

6g

Bạch linh

12g

Đương quy

10g

Thục địa

12g

Xuyên khung

8g

Bạch thược

10g

Chích thảo

4g

Có thể gia thêm a giao, thăng ma, tam thất.

Hoặc dùng Cố khí thang

Nhân sâm

12g

Đương quy

12g

Đỗ trọng

12g

Bạch linh

12g

Thục đại

12g

Ngũ vị

6g

Bạch truật

12g

Sơn thù

8g

Viễn chí

6g

Cam thảo

4g

* Trường hợp trung khí hư, băng lậu huyết ra lận nước, người gầy, ăn uống không được, chân tay buồn bã thì dùng bài Đại tễ trung ích khí thang

Hoàng kỳ

24g

Bạch truật

24g

Nhân sâm

24g

Đương quy

16g

Cam thảo

24g

Trần bì

16g

 

2.2. Thể dương hư

a. Triệu chứng: băng huyết, rong huyết lâu ngày không hết, sắc mặt luôn luôn nhợt hoặc xám, bụng dưới lạnh hoặc chổ rốn bị lạnh đau, thích chườm nóng, đau lưng , mỏi gối, người lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch trầm trì.

b. Phương pháp điều trị ; ôn dương, bổ hư

c. Phương thuốc: dùng bài Giao tứ vật thang gia phụ tử chế, hoắc hương, lộc giác giao.

Bài Giao ngải tứ vật thang

Thuc địa

12g

A giao

10g

Đương quy

12g

Ngại diệp

10g

Bạch thược

12g

Xuyên khung

6g

Cam thảo

4g

 

2.3. Thể âm hư

a. Triệu chứng: băng huyết ,rong huyết ra lượng nhiều, mà huyết đỏ sẩm, thân thể gầy yếu ,dầu choáng, tai ù, miệng khô, họng ráo, tâm phiền, lưng đau, sốt cơn, lòng bàn tay, bàn chân nóng, đêm ngủ không yên, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác.

Nếu băng huyết, rong huyết lâu ngày không khỏi đến nổi huyết hư thì sắc mặt vàng úa miệng môi và móng tay xanh nhợt, đầu choáng, tim hồi hộp, tâm thần hoảng hốt hoặc có lúc bụng cồn cào như đói, hoặc có lúc gò má đỏ,chất lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi vàng khô, mạch tế sác.

b. Phương pháp điều trị:tư âm, dưỡng huyết.

c. Phương thuốc:dùng bài Lục vị địa hoàng thang.

Thục địa

320g

Bạch linh

120g

Sơn thù

160g

Trạch tả

120g

Sơn dược

160g

Đan bì

120g

Các vị tán bột hoa với cao địa hoàng, mật ong làm hoàn bằng hạt ngô dồng, mỗi lần uống 2-3 viên với nước muối nhạt hoặc nước sôi vào lúc đói.

Chữa chứng âm hư băng lậu thường gia thêm ô tặc cốt, long cốt, mẫu lệ.

* Trường hợp âm hư hỏa vượng, lượng kinh ra nhiều, màu đỏ, cơn bốc hỏa, miệng khô, khát nước, chất lưởi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác thì cần tư âm giáng hỏa dùng bài Thanh hải hàn.

Thục địa

20g

Huyền sâm

12g

Bạch truật

12g

Hoài sơn

12g

Sa sâm

12g

Bạch thược

12g

Sơn thù

12g

Thạch hộc

10g

Long cốt

12g

Đan bì

12g

Mạch môn

12g

Địa cốt bì

8g

Ngủ vị

8g

Tang diệp

10g

* Trường hợp bệnh lâu ngày kèm huyết hư thì nên bổ huyết cầm huyết; dùng bài Giao ngại tứ vật thang gia giảm.

Thục địa

12g

A giao

10g

Đương quy

12g

Ngại diệp

10g

Bạch thược

12g

Xuyên khung

6g

Cam thảo

4g

 băng huyết rong kinh

B. BĂNG HUYẾT DO CHỨNG THỰC

1. Nguyên nhân

1.1. Huyết nhiệt

Do tâm hỏa vốn vượng, hoặc ăn đồ cay nóng, ráo nhiều quá, đến nổi làm cho nhiệt đỏng ở trong, đẩy huyết đi xuống.

1.2. Thấp nhiệt

Vì thấp nhiệt mạnh quá nên đẩy huyết đi sai đường.

1.3. Huyết ứ

Khi hành kinh hoặc sau đẻ, huyết xấu ngăn trở ở trong làm cho huyết ứ lại, mà huyết mới không quy kinh được.

1.4. Khí uất

Uất ức hại can, can khí không thư thái, phần khí ngịch lên không đi theo đường kinh.

2. Biện chứng luận trị băng huyết.

2.1. Thể huyết nhiệt

 a,, Triệu chứng: ngoài kỳ kinh ra huyết nhiều hoặc ra dầm dề không cầm,màu huyết đỏ sẩm, người nóng khó chịu, khát nước tinh thần hoảng hốt, đầu choáng, ngủ không ngon giấc, lưỡi đỏ khô, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác.

b. Phương pháp điều trị: thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết.

c. Phương thuốc: dùng 1 trong các bài thuốc sau.

Bài 1; Thanh nhiệt cố tinh thang

Quy bản

20g

Địa cốt bì

12g

A giao

12g

Chi tử

12g

Mẫu lệ

12g

Hoàng cầm

8g

Địa du

12g

Ngẫu tiết

12g

Tông lư

12g

Sinh địa

12g

Cam thảo

4g

Bài 2: Đan chi tứ vật thang

Sinh địa

12g

Đương qyu

10g

Đan bì

12g

Bạch thược

12g

Xuyên khung

4g

Chi tử

12g

Bài 3: Thanh kinh thang

Thanh cao

8g

Hoàng bá

4g

Địa cốt bì

8g

Sinh địa

12g

Bạch thược

12g

Bạch linh

12g

Đan bì

12g

Bài 4: Tri bá tứ vật thang

Sinh địa

12g

Đương quy

12g

Hoàng bá

6g

Bạch thược

12g

Xuyên khung

4g

Tri mẫu

6g

+ Nếu nhiệt ít thì dùng Kinh cầm tứ vật thang

Sinh địa

12g

Đương quy

12g

Kinh giới

12g

Bạch thược

12g

Xuyên khung

4g

Hoàng cầm

6g

+ Hoặc bài thuốc kinh ngiệm.

Sơn chi tán

12g

Sinh mẫu lệ

20g

Bạch thược

12g

Hoàng bá sao

8g

Địa du thán

12g

Sinh địa sao

20g

Kinh giới tuệ thán

12g

Chích quy bản

32g

 

2.2. Thể thấp nhiệt

a. Triệu chứng: băng huyết, rong huyết ra nhiều, màu đỏ tía mà hơi dính nhớt. Nếu nặng về thấp thì sắc mặt các vàng, mi mắt sưng híp, ngực bực tức, miệng nhớt dính, đại tiện lỏng, rêu lưởi trắng nhợt, mạch nhu hoạt, nếu nặng về nhiệt thì mình nóng, tụ đổ mò hôi, miệng đắng, tâm phiền, bụng duwois nóng đau, đại tiện bí kết, tiểu tiện vàng đỏ, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi khô, mạch trầm sác.

b. Phương pháp điều trị: thanh nhiệt, táo thấp.

c. Phương thuốc: dùng bài Di hoàng thang

Hoài sơn

30g

Hoàng bá

12g

Khiếm thực

20g

Chi tử sao đen

12g

Xa tiền

1g

 * Trường hợp nếu thiên về thấp thì dùng baig Điều kinh thăng dương trừ thấp thang.

Khương hoạt

8g

Phòng phong

8g

Độc hoạt

6g

Cảo bản

6g

Thương truật

10g

Mạn kinh tử

8g

Hoàng kỳ

12g

Sài hồ

8g

Thăng ma

8g

Đương quy

12g

Cam thảo

4g

* Trường hợp nếu thiên về nhiệt thì dùng bài Hoàng liên giải độc thang.

Hoàng liên

8g

Hoàng bá

6g

Hoàng cầm

10g

Chi tử

10g

 

2.3.Thể huyết ứ

a.Triệu chứng: băng huyết, rong huyết ra rất nhiều,hoặc dầm dề không cầm, sắc ssen tím hoặc có cục, bụng dưới đau cử án, khi máu cục ra rồi thì bớt đau, chất lưỡi có điểm ứ huyết, mạch trầm sác.

b. Phương pháp điều trị: hoạt huyết, thông ứ để hoạt huyết.

c. Phương thuốc: dùng bài Thất tiếu tán hợp Phật thủ tán

Bài Thất tiếu tán

Bồ hoàng (nửa sao nửa sống)

Ngủ linh chi

Hai vị này bằng nhau tán bột, mỗi lần dùng 8g, sắc với rượu và đồng tiền mỗi thue 1 nửa mà uống. Bài Phật thủ tán.

Xuyên khung

10g

Đương quy

60g

Cùng tán bột mổi lần dùng 8g, nước 1 chén ruwoju 1/2 chén, sắc lawys 1/2 chén uống ấm. ngày uống 2 lần.

Hoặc dùng bài Đào hồng tứ vật thang

Xuyên quy

12g

Đào nhân

8g

Xuyên khung

8g

Hồng hoa

6g

Địa hoàng

12g

Thược dược

10g

* Trường hợp huyết ứ mà băng huyết ra nhiều thì dùng bài Chấn linh đan

Xích thạch chi

160g

Nhũ hương( nghiền riêng)

80g

Chu sa

40g

Mộc dược( nghiền bỏ sau đá)

80g

Ngủ linh chi

80g

Vũ dư lương(nung lửa, tôi vào giấm cho bỏ ra)

160g

Tử thạch anh

160g

Đại giả thạch( bào chế như vũ dư lương)

160g

Cùng đập vổ thành cục nhỏ, bỏ vào nồi đất, lấy bùn lẫn muối rát kín nồi lại đợi khô, dùng 10 cân than củi nung đỏ hồng, hết lủa là được, chôn xuống đất 2 đêm cho ra hết hỏa độc. Tất cả các vị tán bột, lấy bột nếp nấu hồ làm bằng hạt đậu đen phơi khô, mỗi lần uống 1 viên với giấm vào lúc đói, ngày uống 2 lần.

* Trường hợp sang thương bị băng huyết, bụng đau cự án thì dùng Trục ứ chỉ huyết thang.

Sinh địa

12g

Đại hoàng

8g

Quy bản

12g

Quy vị

12g

Chỉ xác

6g

Đan bì

10g

Xích thược

10g

Đào nhân

8g

* Trường hợp băng huyết ra nhiều máu cục, đau dữ dội, sắc mặt nhợt nhạt, chân tay giá lạnh, mồ hôi nhiều dùng ngay Nhân sâm định thồng tán.

Nhân sâm

20g

Bồ hoàng

20g

 

2.4. Thể khí uất

a. Triệu chứng : bổng nhiên băng huyết, hoặc huyết ra dầm dề khoonh dứt, màu sắc bình thường, có huyết cục, bụng dưới trương đau, đau lan ra sườn ngực, dễ các gắt, hay thở dài, rêu lưỡi dày, mạch huyền.

b. Phương pháp điều trị: điều khí  giải uất.

c. Phương thuốc:dùng bài Khai uất tứ vật thang

Thục địa

12g

Hương phụ

12g

Bạch thược

12g

Địa du

8g

Đương quy

12g

Bồ hoàng

8g

Xuyên khung

6g

Nhân sâm

8g

Hoàng kỳ

10g

Bạch truật

12g

*Trường hợp uất lâu hóa hảo gây miệng đắng,họng khô, mạch huyền sác thì dùng bài Đan chi tiêu giao tán gia địa du

Sài hồ

8g

Bạc hà

12g

Bạch truật

12g

Sinh khương

12g

Bạch linh

12g

Chi tử

12g

Đan bì

8g

Bạch thược

12g

Cam thảo

4g

Đương quy

12g

+  Hoặc dùng bài Bình can khai uất chỉ huyết thang.

Sài hồ

8g

Sinh địa

12g

Kinh giới tuệ

8g

Bạch thược

12g

Đan bì

12g

Tam thất căn

12g

Bạch truật

12g

Đương quy

12g

Cam thảo

4g

+ Hoặc dùng bài Thanh can đại uất thang

sài hồ

8g

Trần bì

6g

Đan bì

8g

Bạch thược

12g

Bạc hà

6g

Chi tử

10g

Bạch linh

12g

Cam thảo

4g

Cúc hoa

10g

Đương quy

10g

Bài thuốc kinh nghiệm.

Ngũ linh chi sao

16g

Ô tặc cốt nung

4g

Hương phụ

16g

Đương quy

10g

Tán bột, ngày uống 16g chia 2 lần.

 

 MỘT SỐ PHƯƠNG THUỐC HIỆU NGHIỆM CHỮA BĂNG HUYẾT

Chứng băng lậu đã qua, huyết hoạt không cầm được thì nên sử dụng thuốc cốt sáp như Long cốt tán, Như thánh tán, Thất khôi tán.

Bài Long cốt tán

Long cốt

40g

Hương phụ chế

6g

Than bẻ móc

20g

Đương quy

12g

Tán bột, ngày uống 12g, chia làm 2 lần.

Bài Như thánh tán

ô mai nhục

40g

Hạt móc

40g

Can khương

40g

Đốt tồn tính, tán bột ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g, với nước ô mai

Bài Thất khôi tán.

Gương sen

40g

Ích mẫu

40g

Vỏ cua

40g

Anh túc xá

40g

Ngẫu tiết

40g

Lá móc

40g

Hạn liên thảo

40g

đốt tốn tính, tán bột nhỏ làm viên, uống 12g vào lúc đói, ngày uống 2 lần. Có phương thì dùng hạt cây ngô bỏ vào đồng sao đen tán bột uống với rượu mỗi lần 8-12g, uống 2-3 lần thì khỏi.